Kỳ 2: Cuộc “đại chia tách” thời kỳ Đổi Mới – Khi chiếc áo quá rộng (1989 – 1991)
Nếu giai đoạn 1975–1976 là thời kỳ gom tỉnh, thì cuối thập niên 1980 lại mở ra một hướng đi ngược lại: chia tách các tỉnh quá rộng để phù hợp hơn với thực tế quản lý.

Sau hơn 10 năm tồn tại, mô hình tỉnh lớn bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập. Địa bàn rộng, khoảng cách xa, giao thông còn khó khăn khiến việc điều hành, đi lại và phát triển địa phương gặp nhiều trở ngại.
Trong giai đoạn 1989–1991, Quốc hội thông qua nhiều nghị quyết chia tách tỉnh. Đây là một trong những làn sóng thay đổi địa giới hành chính lớn nhất sau năm 1975.
Vì sao phải chia tách các tỉnh lớn?
Việc chia tách các tỉnh lớn trong giai đoạn này xuất phát từ nhu cầu thực tế.
Trước hết là khoảng cách địa lý. Nhiều huyện nằm xa trung tâm tỉnh lỵ, người dân phải đi rất xa để làm giấy tờ, khám chữa bệnh hoặc giải quyết công việc hành chính.
Bên cạnh đó, một tỉnh có diện tích quá rộng, dân số đông và điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ khó quản lý sâu sát. Khi bước vào thời kỳ Đổi Mới, mỗi địa phương cũng cần chủ động hơn trong phát triển kinh tế, hạ tầng và đời sống dân cư.
Đợt chia tách năm 1989: Miền Trung đi trước
Năm 1989, Quốc hội quyết định chia tách 3 tỉnh lớn ở khu vực miền Trung. Đây là đợt mở đầu cho làn sóng chia tách các tỉnh lớn sau thời kỳ sáp nhập.
| Tỉnh lớn trước khi chia tách | Tách ra thành tỉnh mới và tỉnh lỵ |
|---|---|
| Bình Trị Thiên | Quảng Bình – thị xã Đồng Hới, Quảng Trị – thị xã Đông Hà Thừa Thiên Huế – thành phố Huế |
| Nghĩa Bình | Quảng Ngãi – thị xã Quảng Ngãi Bình Định – thành phố Quy Nhơn |
| Phú Khánh | Phú Yên – thị xã Tuy Hòa Khánh Hòa – thành phố Nha Trang |
Sau đợt này, nhiều địa phương ở miền Trung được khôi phục lại tên gọi quen thuộc. Các tỉnh mới có điều kiện tổ chức lại bộ máy hành chính và tập trung hơn vào phát triển địa phương.
Đợt chia tách tháng 8/1991: Làn sóng lan rộng ra nhiều vùng
Đến tháng 8/1991, việc điều chỉnh địa giới hành chính tiếp tục diễn ra ở nhiều khu vực, từ miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ.
| Tỉnh / đơn vị trước khi điều chỉnh | Tách hoặc điều chỉnh thành tỉnh mới và tỉnh lỵ |
|---|---|
| Nghệ Tĩnh | Nghệ An – thành phố Vinh Hà Tĩnh – thị xã Hà Tĩnh |
| Hoàng Liên Sơn | Lào Cai – thị xã Lào Cai Yên Bái – thị xã Yên Bái |
| Hà Tuyên | Hà Giang – thị xã Hà Giang Tuyên Quang – thị xã Tuyên Quang |
| Gia Lai – Kon Tum | Gia Lai – thị xã Pleiku Kon Tum – thị xã Kon Tum |
| Hà Sơn Bình | Hòa Bình – thị xã Hòa Bình Hà Tây – thị xã Hà Đông |
| Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo và một phần tỉnh Đồng Nai | Bà Rịa – Vũng Tàu – thành phố Vũng Tàu |
Riêng Bà Rịa – Vũng Tàu không nên hiểu đơn giản là tỉnh Đồng Nai tách ra. Tỉnh này được thành lập trên cơ sở đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo và một số huyện thuộc tỉnh Đồng Nai lúc bấy giờ.
Đợt chia tách tháng 12/1991: Tiếp tục rã các tỉnh lớn còn lại
Cuối năm 1991, Quốc hội tiếp tục phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh. Đợt này tác động rõ đến Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ và khu vực Hà Nam Ninh cũ.
| Tỉnh lớn trước khi chia tách | Tách ra thành tỉnh mới và tỉnh lỵ |
|---|---|
| Thuận Hải | Ninh Thuận – thị xã Phan Rang – Tháp Chàm Bình Thuận – thị xã Phan Thiết |
| Hậu Giang | Cần Thơ – thành phố Cần Thơ Sóc Trăng – thị xã Sóc Trăng |
| Cửu Long | Vĩnh Long – thị xã Vĩnh Long Trà Vinh – thị xã Trà Vinh |
| Hà Nam Ninh | Nam Hà – thành phố Nam Định Ninh Bình – thị xã Ninh Bình |
Đây là đợt chia tách quan trọng vì nhiều tỉnh lớn còn lại được sắp xếp lại, giúp địa giới hành chính gần hơn với thực tế quản lý từng địa phương.
Ý nghĩa của cuộc “đại chia tách”
Giai đoạn 1989–1991 cho thấy mô hình tỉnh quá rộng không còn phù hợp trong bối cảnh mới. Khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi Mới, bộ máy hành chính cần gần dân hơn, linh hoạt hơn và sát với điều kiện từng địa phương hơn.
Sau khi chia tách, nhiều tỉnh có điều kiện xây dựng trung tâm hành chính riêng, chủ động hơn trong quy hoạch, ngân sách, hạ tầng và phát triển kinh tế địa phương.
Tuy vậy, đây vẫn chưa phải là đợt chia tách cuối cùng. Trên bản đồ Việt Nam lúc đó vẫn còn một số tỉnh lớn hoặc tỉnh mang tên ghép, và các thay đổi tiếp theo tiếp tục diễn ra trong giai đoạn 1996–1997.
Kết luận
Giai đoạn 1989–1991 là bước ngoặt lớn trong lịch sử địa giới hành chính Việt Nam sau năm 1975. Nếu đợt 1975–1976 là thời kỳ gom tỉnh, thì giai đoạn này là thời kỳ chia tách để bộ máy hành chính phù hợp hơn với thực tế quản lý và phát triển.
Đó là lý do giai đoạn này có thể được gọi là cuộc “đại chia tách” thời kỳ Đổi Mới – thời điểm nhiều địa phương trở lại với tên gọi và địa giới quen thuộc hơn.
